Cuộc trở về bắt đầu bằng khung trời bình minh nơi Đà Loan.
Cách đây ngót 4 năm, tôi cũng trầm trồ đứng ngóng về phía đông, nhìn trông mặt trời phô diễn ánh mai, những quầng mây thắm sắc trải dài trên đôi nếp nhà nhấp nhô. Thời gian có trôi đi bao lâu thì có vẻ như khoảng trời của Đà Loan trong ngày rạng vẫn mang dáng vẻ uỷ mị tiêu điều ấy. Một màu rực, đỏ hồng tím pha trộn trên lớp lớp mây, càng lúc càng sáng lên làm lu mờ ánh trắng trơ trọi của những cây đèn đường, hay của dăm ba ánh điện, ánh đèn xe le lói – những con ong chăm chỉ của ngày mới.
Chúng tôi ngồi bên những gốc cây già cỗi của một quán cà phê phố thị. Ti vi vang tiếng bản tin sáng. Những tin tức cứ rà rã làm nên lớp âm thanh nền cho phố thị thi thoảng chỉ gắt lên một tiếng động cơ xe hay một tiếng chó sủa vang bởi bóng người lại qua. Gió khẽ mát lành, cuốn tầng lá cây lao xao, chốc chốc lại mang xuống một quả chín rụng rữa. Những cốc cà phê nghi ngút khói, một cốc trà gừng nồng vị, những người mới gặp lần đầu chẳng có lời chuyện vãn nào cất nổi thành câu, phải đợi thêm lâu nữa thì những con người ẩn mình trong nét cười xa lạ này mới thoát khỏi vẻ ngại ngùng mà cùng cười đùa vui vẻ. Phải đợi thêm một lúc lâu nữa. Nhưng kể, cái đợi ấy cũng đáng để đợi. Và chính sự đợi chờ đơm quả làm nên vị ngọt của những chuyến hành trình – thứ mà từ lâu, tôi luôn yêu.
Xe rời Đà Loan, chạy sâu vào heo hút núi đồi. Tới lúc đặt chân được tới đầu điểm khởi hành cho chuyến trekking, nắng đã ngào ngạt. Xe thả chúng tôi xuống lưng chừng một con đường lát bê tông, chạy giữa hai bên vài nếp nhà thưa thớt, cửa đóng im ỉm. Một quán đồ tạp hoá, đôi ba vị khách địa phương ngồi bên bàn ngó ra lũ thất thểu – cái lũ hẳn người ta đã quá quen ở chốn này. Cái lũ mà gương mặt thì khác nhưng cái phong thái và vẻ mặt chắc cả trăm như một: niềm háo hức lên đường. Trên đầu tôi, hai tán dâu ta xoè rộng, quả chín mọng đỏ tím trĩu trên cành. Lâu lắm rồi mới lại được thấy những quả dâu ta mọng lên trên cây. Từ bao giờ nhỉ? Có lẽ từ khi còn là một đứa con nít cấp một, trốn giám thị trèo vào vườn trường hái dâu, khi mà vườn trường cũng là cả một cuộc phiêu lưu lớn mà được trải qua thì thấy mình như giỏi giang thêm bội phần, can đảm thêm bội phần…
Ồ, sao mà dòng suy nghĩ cứ đi xa quá thế. Nào kìa, quay lại với đoàn khách thất thểu tay xách nách mang những chiếc ba lô cồng kềnh, đang chăm chú lắng nghe người dẫn đoàn hướng dẫn cách dùng những cây gậy trekking. Cái vẻ háo hức quen thuộc của những con người sắp sửa bước lên một hành trình khám phá. Suốt những tháng ngày kể từ khi đặt chân lên hành trình này lần đầu tiên cho tới buổi sáng của ngày trở lại hôm ấy, tôi vẫn cứ tự hỏi mình: lý do gì để người ta vẫn háo hức bước chân lên con đường Tà Năng nhiều đến vậy?
So với những hành trình khác tôi có cơ hội qua, Tà Năng còn kém xa về độ đẹp, độ thú vị, độ cuốn hút, hay những độ gì khác nữa mà một chốc tôi không thể nhớ cho kỳ hết. Tà Năng gay gắt dưới nắng, với những trảng cỏ đã dần trụi lơ, với những con đường dốc mà xe và người qua nhiều tới nỗi sói mòn, héo hon cằn cỗi. Tà Năng cảnh quan không nhiều, con đường ngắn ngủn… Sao mà vẫn nhiều người yêu thích nó và tìm đến nó tới vậy. Sao nhỉ?
Ừ thì, phải quay lại và nhìn Tà Năng bằng những góc nhìn khác thì tôi mới vỡ lẽ về những lý do.
Trời mới chỉ ở quãng vừa đơm nắng nên không khí vẫn dìu dịu mát lành. Những cơn gió miền cao nguyên vẫn làm dịu đi khí trời oi ả. Cộng thêm những tán thông rậm rì của quãng đầu con đường mà chúng tôi vẫn bước đi với vẻ khoan khoái dễ chịu. Hành trình cứ thong thả trải ra trên con lộ mòn ngoằn ngoèo dẫn càng lúc càng sâu vào lòng rừng Tà Năng, ngang những nếp nhà xa cách cuối cùng, chìm hẳn vào cây cỏ và tầng tán rừng… Một con suối cắt ngang, nước róc rách êm đềm.
Đi rồi nghỉ. Nghỉ rồi lại đi. Lâu rồi tôi mới được đi một chuyến đi thong thả đến… lạ thế. Thư thả quá. Chẳng chút vội vàng.
Chốc chốc lại được thả ba lô xuống mà ngồi dưới những tán thông, để cho lớp lá thông kêu xào xạo dưới chân, lắng tai nghe tiếng thông reo trên đầu. Ngước mắt nhìn ra bóng nắng bên ngoài, thấy miết mải.
Chốc chốc lại dừng nghe đôi ba câu chuyện thú vị của người dẫn đoàn: kìa nếp nhà truyền thống của người Churu, kia loại cây cà phê được trồng xứ này, đây một dáng cà phê đặc biệt để đánh dấu đất, chỗ đó một cách người kiểm lâm kiểm soát cháy rừng…
Dốc càng dốc lên. Dốc gắt gỏng giữa những tán thông. Nhưng qua khỏi dốc thì lại được ngồi xuống tận hưởng những cơn gió núi. Ngả lưng ra sau, nhìn lên thấy trời xanh biếc và mây trắng chầm chậm trôi.
Những người đi bên nhau đã bắt đầu rôm rả chuyện trò. Những ngại ngùng và xa lạ buổi ban sáng đã theo gió núi và mồ hôi trôi đi cả. Tôi vẫn nhớ cảm giác này. Cái buổi đầu tiên đặt chân lên một hành trình núi rừng, tôi cũng được chính những người đồng hành xa lạ sẻ chia và quan tâm như thế. Có lẽ một phần lý do tôi vẫn bước lên những hành trình này nằm ở chỗ đó. Dẫu có đi một mình thì người ta không bao giờ cảm thấy lạc lõng hay bị bỏ lại trong một đoàn trekking, những mệt nhọc làm cho người gần người hơn và người thành bạn người lúc nào chẳng hay.
Ăn trưa dưới những tầng tán rừng cuối cùng, rồi tiến ra đồng cỏ trơ trụi, đi giữa nắng và gió, nhìn cỏ khô cháy dưới chân mình, nhìn trời biếc xanh phía trên đầu, nhìn ra bốn phía trập trùng mấp mô những dãy núi xa xa mờ tỏ. Tha hồ ngồi, đứng, ngắm, chuyện vãn, chụp hình. Nhưng dẫu đã cố kéo mọi thứ ra thật lâu thì vẫn cứ tới lúc dừng chân nơi hạ trại: một sườn cỏ bên cạnh những tán thông ngút ngàn, giữa lưng chừng đồi. Trời chưa tàn nhưng nắng đã chiếu nghiêng và bắt đầu vàng đỏ báo hiệu ngày sắp qua.
Dừng nghỉ? Vẫn chưa.
Cả đoàn lại háo hức xuống thác, xuống suối, mong cầu một buổi tắm táp thoả thuê cho tan đi bụi bặm một ngày nắng khô cháy. Anh đầu bếp người địa phương bảo: cứ đi về phía kia, theo con đường mòn, là thấy suối, mười lăm phút thôi, đi mau kẻo trời tối. Ôi, cái mười lăm phút của người vùng rừng nó mới dài làm sao, dài ra tới tận cả tiếng đồng hồ… Chúng tôi hăm hở đi theo con đường mòn, rẽ sai, vòng lại, xuống một con dốc như chưa từng dốc được đến thế, bước ngang một con suối róc rách nước, đi qua dưới những tán đan cài của tre, leo qua một dốc đá, men theo một con đường chon von, cuối cùng mới đặt chân tới thác! Cứ tưởng mãi chẳng tới nơi và tất cả sẽ nản chí mà quay về hết cả. Vậy mà vẫn tới được nơi ấy: như một ốc đảo thiên đường bị bỏ quên giữa hoang hoải đồi cỏ trụi trơ và rừng cộc cằn lao xao…
Những câu chuyện bên mâm cơm đủ đầy buổi tối là vui vẻ và rôm rả nhất. Người đã đủ thời gian để biết nhau, để dễ dàng buông một câu đùa, để cùng cười trước một lời châm chọc. Nhưng nói cơm chắc không đúng, phải nói là tiệc nướng. Gà nướng da giòn rộm. Vịt nướng mắc mật thơm nồng. Thịt heo nướng xiên ngon ngọt tới từng thớ mỡ, dai giòn từng mảng bì. Ăn kèm xà lách cà chua dưa chuột, ngọt ngọt chua chua thanh thanh. Chiêu thêm một bát cháo thịt bằm ăn kèm hành lá. Gió có thổi lạnh cỡ nào thì vẫn ấm lòng, ấm ruột và ấm gan.
Kể, cũng ít có cung đường nào đủ thảnh thơi để đi cả ngày vẫn có thời gian xuống suối tắm táp vui đùa, có thời gian quây quần ăn uống ung dung bên mâm thịt nướng, ngồi bên đống lửa nhóm bằng những cành thông khô gãy, nghe tiếng lửa kêu lách tách, nhìn bóng lửa cháy bập bùng, rồi chuyện trò đủ mọi câu chuyện trên đời. Chưa bao giờ tôi gặp một đoàn sẵn sàng chia sẻ và chịu chia sẻ với nhau nhiều tới vậy. Bên mâm cơm, họ nói về bản thân; bên đống lửa muộn, họ nói về những mong ước và cách sống…
Ồ, hoá ra…
Ngày rạng trong sắc xanh bàng bạc xam xám của tầng mây cao che lấp mặt trời. Những dải núi phía xa có chỗ chìm trong mây trắng, mây như lớp bông cuộn lên đắp hững hờ nơi đỉnh núi. Núi rừng và đồi cỏ uể oải tỉnh giấc trong một sáng mộng mị. Không có những rực rỡ huy hoàng của bình minh tràn sắc màu. Chỉ một nét thanh thản êm đềm trải ra bất tận khắp chung quanh.
Nhưng cũng đừng lấy thế làm coi thường nắng. Lúc chúng tôi kết thúc bữa sáng và sắp xếp đồ chuẩn bị lên đường thì nắng cũng đã phủ tràn khắp những ngọn cây. Nắng càng lúc càng bức, có phần còn gắt hơn ngày trước đó. Dẫu thế cũng chưa hề gì, vẫn đủ thời gian làm thêm một cuốc dạo bộ ngắn qua phía đồi bên cạnh. Nhìn ngắm và chụp hình. Có sao, những con người dư dả thời gian trong một chuyến hành trình thời gian dả dư tới có chút thừa ra đây này…
Ra là thế. Đấy là lý do khiến nhiều người vẫn tìm tới Tà Năng. Ừ thì những đồi cỏ có đôi chút cọc cằn. Ừ thì cảnh quan có đôi chút đơn điệu. Và con đường chẳng có mấy thú vị hay gian nan – một đặc tính mà những kẻ thích đi dài lâu và đi mệt nhọc như tôi từng tha thiết tìm kiếm. Nhưng Tà Năng vẫn có những cuốn hút của riêng mình, vẫn là nàng con gái có cái nét duyên thầm để dẫu một kẻ khó tính khó nết như tôi vẫn thấy phải mến thương và yêu chiều.
Đi nhiều những chuyến đi tất tả rồi, một chuyến để chân nhẹ bước và chân thảnh thơi cũng hay đấy chứ?! Thảnh thơi nhìn nắng toả. Thảnh thơi nghe gió reo. Thảnh thơi bước chân trên lớp lá khô. Thảnh thơi ngửi hương rừng, hương cỏ nồng lên trong ánh mặt trời. Thảnh thơi ngồi đốt lửa giữa gió đêm núi đồi… Tất cả những thảnh thơi này bỗng nhiên nhen lên một niềm ưu tư mới, tới mức khiến tôi nhoẻn cười. Sống mà không biết thảnh thơi thì kể, cũng vứt. Cứ thảnh thơi một chút có sao? Tới lúc nào đó ta lại ào ào lao đi trên những tất tả sau. Thảnh thơi phút giây này đã. Thế giới không đổ sập được và ta cũng không thể thụt lùi chỉ vì tận hưởng một thành thơi.
À, Tà Năng là thảnh thơi phải không? Nên đây vẫn là một con đường đáng để quay trở lại…
Thế đấy, cái tật, cứ thích nơi nào là trở đi trở lại cho tới kỳ ngán ngấy mới thôi. Nhưng khi nào ngán ngấy thì, kể, khó biết!